Chương 6:
Những món đồ được trải ra trên sàn. Bên này là các món đồ như lược chải đầu, bông trang điểm, son môi. Bên kia là chiếc gương đồng. Hầu hết mọi thứ đều đã hỏng, chỉ có chiếc gương là còn nguyên vẹn. Henry vừa định cầm gương lên thì Hiệp ngăn lại. Anh ta lấy chiếc khăn tay trắng phủ lên, che đi phần phản chiếu rồi mới cho Henry xem.
Chiếc gương đồng rất đẹp, được chạm khắc vô cùng tỉ mỉ. Mặt gương hình tròn, được đặt trong khung gương có hình rồng phượng. Đây là một món quà đắt tiền theo nhận định của Henry. Song, nó không có vẻ gì là một loại “chiến lợi phẩm” của Đại tá. Việc nó bị cất vào một xó hẳn vì nguyên nhân sâu xa nào mà anh chưa nghĩ ra.
Thình lình, một cảm giác lành lạnh chạy dọc sương sống của Henry. Anh nhìn về phía cầu thang thì thấy Beth đang đứng ở đó. Gương mặt cô xám xịt, sạm đen, đôi mắt mở trừng trừng nhìn về phía anh, hay đúng hơn là nhìn vào chiếc váy đỏ trên sàn. Bác sĩ đứng ở phía sau, mặt ông ta niềm nở thông báo.
“Chà, quý cô đây muốn gặp chồng của mình… .”
Chưa dứt câu, Beth lao đến như một con thú hoang và nhảy bổ vào người Henry. Anh ta chỉ kịp kêu lên một tiếng trước khi bị hai bàn tay mảnh khảnh của vợ chèn lên cổ họng. Hiệp cũng bị đẩy ra xa bởi một thứ sức mạnh kinh hoàng. Bác sĩ người Pháp không kịp phản ứng, chỉ mấy phút trước thôi, ông thấy cô đã tỉnh táo và chính cô là người chủ động đề nghị được gặp Henry. Giờ đây, trông cô không khác gì một con thú cuồng dại đang cắn xé chồng mình.
“Beth!” Henry cố gọi, nhưng giọng anh nghẹn đi vì sức ép trên cổ. Hiệp ở sau, cố nắm vai Beth mà kéo ra nhưng vô dụng. Beth đang ghì chặt Henry xuống sàn. Hai tay bóp cổ, đầu gối chèn lên ngực. Trong thoáng chốc, khi đầu anh bị đè xuống, Henry vô tình nhìn thấy hình ảnh phản chiếu của Beth trong cái gương đồng rơi trên sàn. Anh không thể tin vào mắt mình. Ở trong đó, anh đang bị đè bởi một người khác. Một người phụ nữ với gương mặt quỷ dị, đầu tóc bù xù, bết cứng lại. Khuôn miệng há to, cằm xệ xuống. Đôi mắt trắng dã nổi bật trên nước da tái mét, thối rữa.
Trong lúc Henry dần lịm đi, Beth bỗng buông thả. Cô khóc, khóc òa lên như một đứa trẻ và luôn miệng xin lỗi Henry. Nhân cơ hội đó, bác sĩ toan lao đến với chiếc khăn tẩm thuốc mê nhưng Henry đã ngăn lại. Anh cố lấy lại hơi thở rồi ôm chầm vợ mình vào lòng, vỗ về an ủi cô. Henry không biết người ban nãy là ai, nhưng anh ta chắc chắn rằng cô gái bé nhỏ trước mặt chính là Beth, người vợ mà anh hết mực yêu thương.
Beth được đưa trở lại giường và chìm vào giấc ngủ sau liều an thần. Trước khi rời đi, ông ta nói rằng ban đầu mình nghĩ nó là bệnh dại, và nếu thật thì khả năng chữa khỏi cho Beth là bằng không. Tuy vậy, sau khi thấy Beth chuyển biến, ông rút lại suy nghĩ đó và chính thức từ bỏ ca bệnh này. Ông khuyên hai vợ chồng nên về Anh chữa trị vì với cơ sở vật chất còn hạn chế ở đây thì rất khó. Nói rồi ông chào tạm biệt rồi rời đi, không quên gửi kèm lời chúc may mắn đến với hai người.
Chỉ còn Hiệp và Henry ở trong phòng. Hiệp pha cho anh một cốc cà phê và cả hai người ngồi lặng thinh, ánh mắt đưa về phía cửa sổ, về phía những khoảng không vô định, bất cứ đâu trừ người phụ nữ đang say ngủ trên giường. Rồi Hiệp cất lời.
“Tôi sẽ chuẩn bị tàu cho anh chị, sớm nhất là ngày kia.”
“Không có tác dụng đâu…, cô ấy sẽ không chịu đi.”
“Ý anh là sao?”
“Tôi đã đề cập đến vấn đề này rồi. Cô ấy không chịu đi. Cô ấy cứ khăng khăng phải ở lại nơi này.” Henry nhấp một ngụm cà phê.
“Chúng ta có thể dùng thuốc mê và đưa cô ấy đi. Khi tỉnh lại thì hai người đã ở trên tàu rồi.”
“Không. Lúc đó cô ấy không hề mê sảng.” Henry quả quyết. Nhưng cái vẻ cứng cựa của anh chỉ duy trì được vài giây trước khi anh thả mình về sau mà khóc. Đáng lẽ cô ấy không phải đi… anh cứ vừa khóc vừa nói vậy.
Hiệp ngồi lặng ở đó, anh không nỡ rời bỏ người đàn ông tiều tụy trước mặt. Vì anh biết lúc này Henry chẳng có ai ngoài anh cả. Đây là lần đầu tiên anh chứng kiến một người chồng hết lòng vì vợ như vậy. Ở chỗ của anh, người vợ chỉ đóng vai trò kép phụ trong xã hội. Bản thân anh từng chứng kiến cha mình hành hạ và làm khổ mẹ khiến bà đau đớn về thể xác lẫn tinh thần. Có lẽ trong tương lai anh cũng sẽ như vậy, nếu không gặp được Henry và Beth.
Nhắc đến Beth, cô đang nằm trên giường thì bỗng trở mình. Cô gọi tên Henry và lập tức anh đến bên cô, xoa đôi bàn tay thô trần của mình lên gò má và đặt lên môi cô một nụ hôn. Dường như Beth không nhớ những gì đã xảy ra. Nhưng cô vẫn hỏi về người phụ nữ áo đỏ.
“Anh phải giúp cô ấy, Henry. Cô ấy đang ở đây, trong căn nhà này. Chúa ơi Henry… ở đây có rất nhiều tội lỗi.”
Trong lúc Henry trấn an vợ mình, Hiệp nhẹ nhàng tiến tới và đưa ra lời đề nghị kì lạ.
“Thưa anh Clawberg… .” Hiệp nói, vốn từ lịch sự khác thường khiến Henry chú ý. “Cho phép tôi được giới thiệu một người mà tôi quen biết. Không chừng người ấy có thể giúp được cô Beth. Có điều… .” Hiệp ngập ngừng. Nhưng Henry ra hiệu cho anh tiếp tục. “Tôi biết anh vốn quen với Tây y, nhưng vì bác sĩ không thể làm gì hơn, tôi muốn anh thử tìm đến giải pháp địa phương xem sao.”
Trái với những gì Hiệp nghĩ, Henry rất cởi mở trong chuyện đó. Có lẽ bây giờ anh ta sẽ bám víu vào bất kì hy vọng nào, đặc biệt khi nó đến từ Hiệp, một người mà anh tin tưởng. Để giải tỏa căng thẳng, Hiệp sắp xếp cho hai vợ chồng một chuyến đi chơi xa vào khu chợ của dân địa phương cho khuây khỏa. Henry đồng ý và họ sửa soạn để ngày mai lên đường.
Henry tiện đường ghé qua lấy bức điện tín của bố.
Trên chiếc xe quân dụng, Hiệp chở họ men theo con đường chính còn thô sơ. Bên ngoài là cái nắng oi ả, khác với không gian kín đáo và mát lạnh của tòa dinh thự. Song, bản thân Henry cảm thấy nó thật tốt. Nhất là khi anh nhìn sang Beth, da dẻ cô trở nên hồng hào hơn, sắc mặt cũng tươi tắn hơn lúc trước.
Chiếc xe di chuyển khoảng một tiếng thì khu chợ dần hiện ra trước mắt. Những ngôi nhà thô sơ được dựng lên bằng tre nứa nằm cạnh nhau tạo thành những gian hàng nhỏ. Ở giữa là những lối đi đầy ắp người, đan xen vào nhau hệt như một mạng lưới của những tế bào đang hoạt động vì sự sống. Từ đằng xa, Henry đã nghe tiếng của dân bản địa. Họ trao đổi với nhau bằng nhiều tông giọng. To có, nhỏ có, quát mắng càng không thiếu. Lẫn trong đó là giọng của cụ già, bà trẻ, có tiếng trẻ con cười đùa và tiếng gàn của mấy ông cụ. Tất cả tạo nên một khung cảnh tràn đầy sức sống, khác biệt hoàn toàn với cái vẻ tĩnh lặng của dinh thự.
Ấy thế mà khi động cơ xe gầm rú ngoài cửa, những tiếng ấy cứ dần dần nhỏ lại. Henry nhìn lên để rồi phát hiện ra trước cổng chợ là ba cây cột với ba cái xác đàn ông treo trên đó. Người họ lỗ chỗ những vết đạn. Máu chảy thành hàng, khô đặc lại và dính trên những mảnh ảo mỏng. Có người bị đạn bắn vào đầu, gục xuống. Dưới chân là một phần thịt màu sáng nằm co ro giữa trời nắng gắt. Henry thoáng rùng mình, anh dần nhận ra vì sao người dân lại né tránh khi Hiệp chở họ qua trục đường chính của khu chợ.
“Xin lỗi anh chị, dạo này loạn lạc quá.” Hiệp nói.
“Có cần thiết phải thị uy đến mức đó không?” Beth bất ngờ bày tỏ khiến Henry giật mình. Hiệp không trả lời, anh chỉ lặng thinh đánh tay lái rẽ vào một khu nhà khác.
Hiệp dừng xe cách một cái lán nhỏ chừng năm mét. Anh bảo Henry và Beth ở lại đây chờ một chút trong khi anh đi bộ ra đằng sau ruộng để gặp người quen kia. Hiệp vừa rời đi, Beth ngỏ ý muốn đi thăm thú xung quanh. Thấy vợ như vậy, Henry không nỡ từ chối. Chợt trong cái lán nhỏ ấy, có một bà già mù đang ngồi đan rơm thì ngoảnh mặt về phía Beth, miệng gọi lớn.
“Liên Hương!”
Tiếng gọi như hướng vào Beth khiến cô giật mình quay lại. Bà già mù lúc này dò dẫm ra bên ngoài, cố nắm lấy bàn tay của Beth, miệng liên tục gọi.
“Liên Hương! Liên Hương!”
Henry không biết tiếng địa phương nên chỉ cố đẩy bà ta ra một cách nhẹ nhàng. Thế nhưng, điều khiến anh bất ngờ là Beth lại có thể nói chuyện được với bà ấy. Cô nắm bàn tay gầy gộc xương xẩu của bà, ân cần giải thích điều gì đó khiến bà ta bình tĩnh lại. Nhưng điều kì lạ là sau khi rời khỏi căn nhà kia, Beth gần như chẳng nhớ điều gì vừa xảy ra.
“Em nói gì với bà ấy vậy?”
“Em không biết nữa.” Rồi Beth cứ thế mà đi về phía trước.
“Trời! Tôi tìm anh chị mãi.” Hiệp vẫy tay từ xa, lời nói có phần trách móc. “Lần sau anh chị đi đâu báo tôi biết chứ. Đông đúc thế này, lạc nhau thì phiền lắm.”
Hiệp dẫn họ vòng qua căn nhà tranh ban nãy, đi sâu vào trong một con đường được che bởi những tán cây rộng. Phía cuối đường là một ngôi nhà nhỏ bằng gạch, trông khang trang và chắc chắn hơn mấy cái lán tạm ngoài chợ. Bao quanh nhà có hàng rào tre, cổng vào đặt ở giữa. Vì là người Tây nên Henry phải cúi nhẹ đầu mới lách qua được. Bên trong, có một người đàn ông trung niên, râu tóc cắt tỉa gọn gàng. Đầu đội khăn đóng, mặc áo dài đen, giống cái mà Beth xem ở chợ. Ban đầu Henry nghĩ ông ta thật kỳ lạ, sau anh mới biết áo dài có loại cho cả nam lẫn nữ.
Ông ta nhìn hai vợ chồng với đôi mắt dò xét, pha lẫn khó chịu. Khi hỏi Hiệp, anh mới biết ông ta thuộc tầng lớp có trí thức nên quan điểm của ông với người Tây khá phức tạp. Hiệp phải thuyết phục mãi thì ông mới chịu xem bệnh cho Beth.
Khác với Henry, ông nhìn Beth bằng ánh mắt quan tâm và thấu hiểu hơn. Ngay từ lúc bước vào, sắc mặt ông ta tối sầm lại khi nhìn thấy cô. Sau đó là nét đượm buồn, đôi mắt cong lại, rưng rưng trực trào nước mắt. Beth ngồi đối diện ông, giữa họ là một cái bàn tre. Ông ra hiệu cho Beth để tay lên bàn, rồi dùng ngón tay sờ vào phần dưới cổ tay. Hiệp giải thích đó là bắt mạch, một phương pháp chẩn đoán bệnh của phương Đông.
Có thể hai phương pháp khác nhau giữa Đông và Tây, nhưng cái biểu cảm khó hiểu của vị thầy thuốc này không nhẫm lẫn đâu được. Nó giống hệt với ông bác sĩ người Pháp. Gương mặt nhăn nhúm, ánh mắt tập trung đến độ đầu nổi cả gân. Ông ta cứ day đi day lại mấy ngón tay như cố tìm ra một điểm bất thường nào đó. Và đúng như dự đoán, theo lời Hiệp dịch lại, Beth hoàn toàn bình thường.
Henry tức điên đến mức quay mặt ra ngoài mà chửi đổng. Thầy thuốc không giận, ông chỉ nhẹ nhàng hỏi Hiệp về những triệu chứng khác. Tất nhiên Hiệp đã kể lại mọi chuyện sau khi có sự đồng ý của Henry. Chưa kể, khi nhìn thấy cái vòng tay của Beth, gương mặt ông đanh lại. Ông gọi Henry vào và giải thích dưới sự phiên dịch của Hiệp.
“Tôi đã khám cho chị nhà, song không có gì bất thường. Tuy nhiên, dựa theo lời kể của anh sĩ quan đây, tôi muốn xin phép anh được “khám bệnh” theo cách khác.” Ông nhấn mạnh chữ “khám”.
“Cách nào thưa ông?”
Người đàn ông kia không vội trả lời.
Henry hơi mất bình tĩnh. Anh cố giữ cái phong thái chuyên nghiệp của mình và nén sự khó chịu lại. Nhưng thông qua ánh mắt, vị thầy thuốc kia hiểu anh đang nghĩ gì. Không đợi anh đồng ý, ông ta nói luôn.
“Tôi hiểu ý anh. Tất nhiên, nếu đặt mình vào vị trí của anh, tôi cũng khó chấp nhận. Nhưng mong anh suy nghĩ thấu đáo. Tây y và Đông y vốn không hòa hợp. Nhưng nay cả hai đều đưa đến một kết luận chung. Vậy cớ sao anh không tìm một con đường khác cho vợ mình? Khám hay không thì tùy anh.”
Ông nói một lúc, đợi Hiệp dịch xong thì quay lưng định đi vào trong. Đương lúc chuẩn bị đi khuất, Henry gọi ông lại. Anh ta đồng ý cho ông “khám” theo cách riêng. Ông thầy gật đầu, quay vào trong rồi trở ra với một tấm bảng gỗ và mấy đồng xu nắm trong tay. Ông để bảng gỗ trên bàn, quay sang cái bàn thờ ở trên cao, thắp hương khấn vài câu rồi ngồi cạnh Beth. Trước khi làm, ông nói với Henry.
“Trước đây tôi được dạy cho mấy bài coi bói, xem quẻ. Về chuyên sâu thì tôi không bằng ai, nhưng đủ để nhận biết xem có chuyện hay không. Nhân hôm nay hữu duyên, tôi xem cho cô một quẻ, không lấy tiền.”
Không đợi Hiệp dịch xong, ông nhìn về phía Beth. Lúc này, hai người nhìn nhau với thái độ dè chừng, phần nhiều có vẻ như đối đầu nhau. Ông thầy ôm mấy đồng xu vào lòng bàn tay, khấn mấy câu rồi thả lên bảng gỗ. Tiếng lạch cạch của những đồng xu vang rõ khắp nhà. Vài đồng xoay quanh trục mấy vòng trước khi đổ nhào xuống. Ông thầy nhìn mấy đồng xu cứng nhắc, lạnh lẽo trên bàn rồi thở dài.
“Trên đường tới đây, hai người có gặp ai không?”
Henry kể rằng họ ghé qua một cái lán nhỏ có bà cụ mù. Anh cố nhắc lại lời của bà ta nhưng không thể nào phát âm được. Cho đến khi Beth thốt ra cái tên Liên Hương.
Trời đất bỗng tối sầm, mưa rào đổ xuống. Mây đen che kín mặt trời, bát hương trong nhà bỗng cháy rực khiến mọi người đều giật mình. Không gian xung quanh trở nên lạnh lẽo. Cơn gió mạnh thổi qua khiến ai cũng rùng mình. Lá cây, bụi bặm theo đó cuốn vào trong nhà, lơ lửng và quay vòng trên không trung. Ông thầy kia cố giữ bình tĩnh. Ông nhìn vào Beth, đôi mắt cô trợn trừng, lòng trắng nổi bật lên như hai điểm sáng quắc trong bóng tối. Henry cũng thấy, và đây đúng là gương mặt đã vật anh xuống lúc trước. Cái cảnh Beth bổ nhào lên người anh lại hiện về. Anh lùi mấy bước về sau thì đụng trúng Hiệp đang đứng như trời trồng. Trước mặt hai người giờ chỉ có ông thầy và Beth đang nhìn trừng trừng.
Henry cảm thấy hoa mắt, chóng mặt. Anh cố giữ mình bình tĩnh. Trong đầu anh nhớ về những dòng kinh thánh lúc đi nhà thờ. Henry bám vào vách tường, tựa lưng vào đó. Nhưng không khi xung quanh anh trở nên nặng nề bất thường. Như thể có một ai đó, hay cái gì đó đang đè lấy anh, ép chặt anh như quả cam bị vắt nước. Trong cơn mê man, anh nghe tiếng của ông thầy. Ông ta hỏi mấy câu bằng tiếng bản địa. Và Beth cũng dùng chính cái ngôn ngữ ấy, ngôn ngữ mà cô chưa từng biết đến, để đối đáp với người trước mặt.
Anh lịm đi, không hay trời đất xung quanh như thế nào. Mãi đến khi Hiệp lay dậy, Henry tỉnh lại. Anh đang nằm ở dưới sàn, Beth thì đang ngồi thẫn thờ trên bàn. Còn đối diện cô là ông thầy, lúc này người đã lạnh toát, đầu gục xuống dưới, máu chảy thành một vũng trên mặt bàn, nhỏ giọt xuống dưới đất.
Hiệp đỡ anh dậy, rồi anh vội đưa hai người ra xe theo lối phía sau. Hiệp để họ lại một góc, dặn dò họ không được đi đâu và không phát ra bất cứ tiếng động nào. Rồi anh chạy đi ngay, vờ như không biết gì. Lúc sau, Henry nghe tiếng máy xe nổ. Hiệp đánh xe chạy một vòng rồi quay lại vị trí của họ.
Beth lúc này đờ đẫn. Gương mặt cô cắt không còn một giọt máu. Cô thu mình dưới bóng lưng của Henry. Thấy vợ như vậy, Henry chẳng dám hỏi gì thêm. Anh đảo mắt xung quanh, cố gắng không để ai thấy tình cảnh hiện tại của họ. Hiệp vừa lao xe đến, cả hai nhanh chóng leo lên rồi đi một mạch về nhà.